Name:
Email:
Phone:
Question
Help
Báo chí với Quảng Văn
Giới thiệu
Tin tức

Ếch - cá tính sáng tạo - Mạc Ngôn

Mạc Ngôn là một tác giả có ý thức tránh nhiệm tự giác rất cao trong sáng tạo nghệ thuật với phương thức người báo tin duy nhất [1]. Mạc Ngôn đã khẳng định, “ Viết gì thì đều phải có tính sáng tạo đầu tiên và độc nhất. Người khác đã làm rồi thì không thể lặp lại. Tốt nhất là viết những gì người khác chưa viết, thủ pháp cũng là cái mình chưa sử dụng lần nào” [2]. “Tiểu thuyết hay trong lòng  tôi, thứ nhất là phải có ngôn ngữ hay, thứ hai phải có cốt truyện hay, thứ ba phải chứa đựng nhiều điều thú vị và những trăn trở, để độc giả mong đợi, thứ tư phải để độc giả thấy được những thay đổi trong tư tưởng của nhà văn, cũng có nghĩa là phải để cho độc giả cảm thấy mình ở cùng vị trí với nhà văn” [3]. Như vậy với Mạc Ngôn quan trọng nhất trong sáng tác nghệ thuật là có sự tìm tòi về thể loại và ngôn ngữ, tối kị nhất sự lặp lại người khác và không chấp nhận cả sự lặp lại của chính mình, luôn làm mới mình là yêu cầu mà ông đặt ra và theo đuổi trong suốt các chặng đường sáng tác. Từ Cao lương đỏ của những năm 80, thế kỉ XX đến nay, mỗi bộ tiểu thuyết của Mạc Ngôn là một sự đột phá trong phong cách thể hiện ngôn ngữ và hình thức thể loại. Sau Sinh tử bì lao, Mạc Ngôn trở lại văn đàn với Ếch (cuối năm 2009) – phương thức tự sự xưa nay chưa từng có – sự kết hợp của ba thể loại thư – kịch – tiểu thuyết.

          Sự đan xen, giao thoa, kết hợp giữa các yếu tố tự sự trong các tiểu thuyết xưa nay không hiếm. Nhưng cách viết như Mạc Ngôn trong Ếch thì quả thực rất mới lạ. Có thể rút ra công thức kết cấu riêng cho Ếch như sau: Tiểu thuyết = 4 thư + 1 kịch. Sự kết hợp ba trong một này đã dường như bẻ đôi tác phẩm thành hai phần hoàn toàn tách biệt, nhưng lại bổ sung nhau thể hiện mối quan hệ biện chứng trong tư duy lôgich của tác giả. Phần một là 4 lá thư dưới góc nhìn của Khoa Đẩu kể về thân thế truyền kì của cô, nữ bác sĩ phụ khoa. Đồng thời lấy thân thế của cô làm đầu mối triển khai một cách chân thực và sâu sắc vấn đề lịch sử của Trung Quốc mà cho đến nay vẫn mang tính thời sự – chính sách sinh đẻ có kế hoạch. Lịch sử xã hội được triển khai qua lịch sử cá nhân, các bước thăng trầm trong cuộc đời của cá nhân cũng chính là “cái gương” phản ánh những biến chuyển của xã hội. Phần hai là một vở kịch 9 màn, là sự tiếp nối, bổ sung làm cho phần một đạt đến sự thăng hoa nghệ thuật. Vở kịch là sự tiếp thu, học hỏi nghệ thuật gián cách từ vở kịch Vòng phấn Kapkazơ của Becton Brech, người được mệnh danh là “người cha của dòng sân khấu tự sự Tây phương” [4]. Cũng là sự kiện hai người mẹ tranh nhau một đứa bé nhưng  bối cảnh và mục đích sáng tạo lại hoàn toàn khác nhau. Thực ra “cái vòng phấn” là một môtip vốn rất quen thuộc trong văn học dân gian nhiều nước Châu Á, đặc biệt là trong truyện cổ Trung Hoa và Kinh thánh. Nó tượng trưng cho sự công bằng và khách quan khi sử kiện, đến Becton Brech thì hình ảnh “cái vòng phấn” đã bị lạ hóa đi nhiều. Quan tòa Azđăc  đã sử cho Grusa, mẹ nuôi thắng kiện vì quan niệm về quyền sở hữu tập thể, “một vật phải thuộc về người làm cho nó ngày một thêm hoàn hảo. Trẻ em thuộc về những tấm lòng nhân hậu, để chúng trưởng thành trong mối yêu thương. Chiếc xe kia muốn khỏi đổ giữa đường, thì phải thuộc về tay người lái giỏi. Đồng ruộng phải thuộc về tay người chăm bón tưới, để từ đất kia quả ngọt nẩy đầy cây” [5]. Đến Mạc Ngôn ông đã dùng hình thức gián cách  trong gián cách, kịch trong kịch để tố khổ xã hội, hạ bệ quan phụ mẫu – những người đại diện thi hành chính sách pháp luật. Điều mà ông muốn nói chính là cái phi lí trong cuộc đời, cuộc sống hiện thực hóa ra chỉ là một vở kịch lớn chứa đựng rất nhiều vở kịch nhỏ, con người đối xử với nhau hóa ra chỉ là đóng kịch. Kịch diễn trong kịch với cái lí lẽ “án kiện mơ hồ thì phải dùng cách phá án mơ hồ” [6]. Sự kết hợp giữa thể loại thư mang đặc trưng riêng tư, tự do ngôn luận, có thể mở rộng trường liên tưởng, chuyển đổi chủ đề, chuyển cảnh liên tục, đang kể việc này có thể nhảy cóc sang việc khác; với kịch gián cách, phi lí  giúp người đọc không đồng nhất mình với nhân vật kịch mà tìm cách làm cho họ luôn giữ khoảng cách và đối lập với hành động kịch, không muốn đem đến cho người xem những xúc động ủy mị mà muốn xóa bỏ những ảo tưởng gợi cho độc giả những suy nghĩ phê phán mang tính chất “phản tư” hiện thực xã hội.

Ngôn ngữ “cuồng hoan” trong hàng loạt các tác phẩm trước Ếch: Cao lương đỏ, Gia tộc cao lương, Củ cà rốt trong suốt, Phong nhũ phì đồn, Củ tỏi nổi giận, Đàn hương hình, Tứ thập nhất pháo, Tam thập bộ, Sinh tử bì lao… là nét phong cách ngôn ngữ đặc trưng nhất của Mạc Ngôn. Thế nào là “cuồng hoan”? “Cuồng hoan” là trạng thái tâm lí con người thoát khỏi những ràng buộc về đạo đức, tư tưởng, luân lí để giải phóng cuộc sống tự do bằng hệ thống ngôn ngữ, hình ảnh, nhân vật, tư tưởng phản chính thống, lối cường điệu, phóng đại, hư cấu… Trong cuộc sống, con người luôn theo đuổi khát vọng tự do cả về thể xác và tâm hồn. Có thể nói, tự do chính là mục đích cao cả nhất, nhân bản nhất, Người nhất. Thời kì Cách mạng văn hóa Trung Quốc là thời kì khắc nghiệt làm cho cuộc sống con người ngột ngạt, khó thở, bóp nghẹt cả những nhu cầu sống mang tính nhân bản nhất của con người. Người ta sợ nói ra những lời phạm húy, nhắc đến giới tính, quan hệ nam nữ, ham muốn nhục dục là sự sỉ nhục đáng xấu hổ. Bởi vậy con người sợ hãi và né tránh, nhưng mặt khác lại không ngừng ham muốn được giải phóng ra khỏi những điều bị cả xã hội bài xích ấy. Sự mâu thuẫn ấy làm cho nỗi đau phải nén chịu càng tăng mạnh, đòi hỏi phải có một lối thoát để tháo bỏ, giải phóng tư tưởng. Khi khát vọng lên đến mức không thể kìm nén được sẽ vỡ tung ra giống như áp suất bị nén trong bình kín. Nhìn từ góc độ cơ chế  thì xuất hiện “Cuồng hoan” là bởi vì yêu cầu của tự do. “Cuồng hoan” chính là một phương thức, một con đường, một cách giải phóng tự do trong cuộc sống của con người. Là một người rất có ý thức về sáng tác, Mạc Ngôn đã xử lý rất tốt mối quan hệ mang tính biện chứng: Ngôn ngữ “cuồng hoan” – cuộc sống tự do. Với lối viết này ông đã khơi dậy, đánh thức những khát vọng bị  lãng quên, bị bỏ đói  trong con người, những từ tục tĩu được sử dụng như để văng vào bộ mặt xã hội cho thấy sự phẫn uất trong cá tính sáng tạo của ông là vô cùng mãnh liệt. Những gì mà xã hội sợ hãi và cấm kị, xấu hổ khi nhắc đến như sinh đẻ, giới tính, quan hệ sắc dục, ham muốn nhục thể được “trần truồng”, “lõa lồ” phơi bày  lộ liễu, trắng trợn dưới ngòi bút của ông. Điểm cơ bản của “cuồng hoan” chính là sự thăng cách và giáng cách được sử dụng rất táo bạo. Thăng cách là lối dùng hình ảnh ngôn từ phóng đại, cường điệu để làm những thứ bình thường, đời thường, thậm chí tầm thường thành những thứ vĩ đại, to lớn, mang tầm vóc cao quý. Chẳng hạn như trong Phong nhũ phì đồn, Mạc Ngôn đã cường điệu, phóng đại “bầu vú”, “cặp mông” của người phụ nữ, trong Đàn Hương Hình là cường điệu, phóng dụ, miêu tả tỉ mỉ nghề đồ tể với những cách hành hình dã man, ghê tởm của Triệu Giáp. Giáng cách là sự đảo ngược lại, dùng những ngôn từ thiếu trang nhã để nói về những thứ cao quý như Đảng, nhà nước, chính sách, lãnh đạo, biến những thứ cao quý thành những thứ thấp hèn. Cách viết khoa trương, một thăng một giáng của ông làm người ta nhầm tưởng những thứ thấp hèn thành những thứ cao cả, được coi trọng, và ngược lại. Sự hạ bệ trong tư tưởng với những ám dụ ngầm, lối đả kích sắc nhọn hơn giáo gươm đã đem lại  hiệu quả sâu sắc chính là  nét độc đáo trong phong cách Mạc Ngôn.  Khác với ngôn ngữ “cuồng hoan” mà Vương Mông sử dụng là nghiêng về bản thân ngôn ngữ, nặng về bản thân kết cấu của chữ, từ, câu để hô hào cuộc sống tự do chủ yếu là giải phóng  tinh thần con người; ngược lại ngôn ngữ “cuồng hoan” mà Mạc Ngôn sử dụng lại nghiêng về tính ý tượng, chú trọng cảm giác cơ thể để kêu gọi giải phóng tự do sinh lí như cảm giác, thể xác,…con người. Mạc Ngôn đã sử dụng ngôn ngữ “cuồng hoan” của hình tượng hóa để độc giả có thể dấn thân vào một thế giới của cảm giác hóa. Tuy nhiên đến tác phẩm Ếch đã có sự thay đổi từ ngôn ngữ “cuồng hoan” hóa, “cảm giác” hóa, từ lối viết khoa trương, khuyếch đại trở lại với ngôn ngữ đời thường, dung dị, mộc mạc. Tuy nhiên thủ pháp thăng cách và giáng cách vẫn được Mạc Ngôn sử dụng một cách triệt để, vẫn với một thăng một giáng Mạc Ngôn đã phơi bày bộ mặt giả dối của xã hội mà đại diện là  những công ty nuôi ếch nhưng thực chất là công ty đẻ thuê, ông quan Cao Mộng Cửu thanh liêm mà thực ra là tên diễn viên quèn không hơn, xã hội tình người mà thực chất là phi tình người, vô nhân đạo; đại cách mạng văn hóa mà thực ra là sự phát triển lùi, cuộc truy lùng giết người hợp pháp.

Ếch cũng là những thử nghiệm mới trong việc đắp nặn hình tượng nhân vật. Nhân vật chính trong tác phẩm được xây dựng từ nguyên mẫu trong hiện thực, chính là cô của Mạc Ngôn. Xây dựng cô, một bác sĩ phụ sản nổi tiếng của vùng đông bắc Cao Mật trong quan hệ mâu thuẫn mà thống nhất. Một mặt cô được đề cập đến như bồ tát sống, như thiên sứ của sự sống. Mặt khác cô lại bị coi là tội nhân, là ác quỷ, là kẻ sát nhân máu lạnh. Toàn bộ tiểu thuyết xoanh quanh cuộc đời trung thành với Đảng của cô thông qua việc thực thi chính sách kế hoạch hóa gia đình trong đại cách mạng văn hóa Trung Quốc. Lấy đề tài khá nhạy cảm mà xã hội né tránh này làm phông nền của tác phẩm, Mạc Ngôn không truy tìm phân định hay luận bàn về công tội mà  chính sách kế hoạch hóa đã thực hiện. Bởi nếu không có chính sách này thì Trung Quốc sẽ bùng nổ dân số, kinh tế không thể phát triển. Trong quá trình thực thi chính sách sinh đẻ có kế hoạch cô đã không từ bỏ một thủ đoạn nào để làm hạn chế ở mức thấp nhất mức gia tăng dân số cho nên cô vừa là anh hùng vừa là sát nhân. Mạc Ngôn đã đổi mới hình tượng nhân vật trên cái phông nền bối cảnh văn hóa ấy. Cô là tổ hợp tính cách phức tạp, là thứ “con lai tạp chủng” mà nội tâm tác giả đã vật lộn để sáng tạo ra. Cô vừa là nguyên mẫu cô trong hiện thực, vừa là hư cấu nhân vật trong tiểu thuyết, làm thế nào có thể điều hòa được mối quan hệ  giữa văn hóa, luân lí đạo đức, quan hệ tình thân và sáng tạo nghệ thuật? Lấy chất liệu từ hiện thực nhưng Mạc Ngôn đã không bị văn hóa hiện thực cùng những luân lí đạo đức rườm rà chi phối, bị biến thành nô lệ của hiện thực mà qua đấu tranh vượt thoát để từ đó tích hợp rất nhiều nguyên mẫu vào hình tượng nhân vật. Khiến nhân vật cô dưới ngòi bút của ông vô cùng sống động, vừa hiện thực vừa mang tính chất huyền thoại. Mà ở những tác phẩm trước Ếch, nhân vật được xây dựng dựa trên lối khoa trương, hư cấu, tưởng tượng như Tôn Mi Nương, Tôn Bính, Triệu Giáp, Tiền Đinh…. Đàn hương hình. Tuy không hẳn là những hư cấu tuyệt đối. Sự vật lộn của nhân vật trong tác phẩm cũng là một điều hết sức mới mẻ. Cuối tác phẩm cô hiện lên như một kẻ chiến bại sau những ngày chiến thắng oanh liệt. Bàn tay nhuộm đỏ máu của cô đã biến cô từ một người không biết sợ bất cứ thứ gì thành một tâm hồn mền yếu đến tiếng ếch cũng sợ. Sự ăn năn, hối hận của cô cũng rất cứng cỏi bởi quan niệm phải sống để nếm trải nỗi đau mài mòn, gặm nhấm tâm hồn. Quyết định gắn bó đời mình với nghệ nhân Hách Đại Thủ nặn ra những con búp bê bằng đất sét cũng chính là một hình thức để chuộc tội. Nhưng mỗi đứa trẻ, mỗi con người chỉ có một linh hồn, một khi linh hồn đã bị hủy diệt thì làm thế nào để chuộc tội?. “Lâu nay tôi vẫn nghĩ rằng, viết là một cách chuộc lỗi với cuộc đời, nhưng sau khi hoàn thành vở kịch, cảm giác tội lỗi trong tôi không hề giảm nhẹ đi, thậm chí càng thêm nặng nề. Cái chết của Vương Nhân Mỹ và đứa con trong bụng cô ấy (…), chính tôi mới là tội đồ, là mầm mống của tai họa. (…). Tôi đã từng tưởng tượng rằng, đứa con trai do Trần Mi sinh ra là đứa con của tôi và Vương Nhân Mỹ đầu thai chuyển thế. Nhưng tôi phủ nhận ngay lập tức và xem đó chẳng qua cũng chỉ là một cách để tự an ủi mình. Nó cũng giống như cô tôi ngày đêm làm ra những con búp bê bằng đất sét mà thôi. Mỗi đứa trẻ đều chỉ có một, duy nhất, không thể thay thế, không có sinh mệnh lần thứ hai. Có phải một khi tay đã vấy máu thì vĩnh viễn không bao giờ rửa sạch? Có phải một linh hồn bị cảm giác tội lỗi chế ngự thì vĩnh viễn không bao giờ được giải thoát?” [7]. Tất cả các nhân vật trong tiểu thuyết này đều chìm trong cảm giác tội lỗi và cố tìm cách để chuộc lỗi cho chính mình.

Ếch, nhan đề cần được giải mã, tên chữ Hán của tác phẩm là – wa con ếch, đồng âm với – wa đứa trẻ, đồng âm với – wa nữ Oa. Con ếch là biểu tượng tín ngưỡng phồn thực của dân tộc Choang Trung Quốc, vừa là biểu tượng cho việc sinh đẻ nhiều, vừa là biểu tượng cao quý của thần linh, mỗi đứa trẻ sinh ra đều đeo hình con ếch ở cổ tượng trưng cho sức khỏe, may mắn. Nhưng câu chuyện mà Khoa Đẩu – Nòng Nọc kể thực ra không liên quan đến con ếch thật trong đời sống. Như vậy nhan đề và ngụ ý nhan đề gợi mở là mang tính chất biểu trưng cho sinh mệnh của con người mà cụ thể là trẻ con trong chính sách kế hoạch hóa gia đình. Tiếng ếch kêu làm bà cô sợ hãi cũng là tiếng khóc đòi mạng sống của những bào thai chưa chào đời. Món thịt ếch cũng là ẩn dụ cho xã hội ăn thịt người, ăn thịt trẻ con. Công ty nuôi ếch mà thực chất là công ty đẻ thuê, “công ty sản suất trẻ”. Con người được nhìn từ góc độ đồng âm với ếch cũng chính là bút pháp một thăng một giáng được sử dụng đắc lực, hiệu quả nhất trong tác phẩm này.

Tất cả những gì đã phân tích ở trên ta có thể rút ra những điểm then chốt như sau: 1. Mạc Ngôn đã đời sống hóa hình tượng nhân vật. 2. Sự dung hợp những quan niệm nghệ thuật cũ – mới, truyền thống – hiện đại trong  kết cấu bộ ba tiểu thuyết – thư tín – kịch. 3. Chiều sâu của tư tưởng trong việc làm rõ đối kháng kịch liệt giữa ý thức văn hóa truyền thống và hình thái ý thức chính trị trong hiện thực đã tạo thành bi kịch cá tính và bi kịch xã hội. 4. Tinh thần “phản bội cái tôi” của chính tác giả. Sự tự phủ định để làm mới mình không phải là sự mâu thuẫn trong quan niệm sáng tác của Mạc Ngôn mà là sự thống nhất, bởi vậy sự điều chỉnh trong nghệ thuật sáng tác không phải là sự trở lại truyền thống theo cách hiểu giản đơn. Từ góc độ văn bản thì Ếch là sự thay đổi quan niệm thẩm mỹ tự lật đổ cái tôi trong hiện thực. Là sự phủ định biện chứng của một ngòi bút “tiên phong” luôn khao khát, tìm tòi, thử nghiệm cái mới.

Ếch là sáng tác thuộc dòng văn học “vết thương” mang ý nghĩa phản tư về chính trị, luân lí, văn hóa, nhân cách…với ý nghĩa sâu sắc. Cách mạng văn hóa, lịch sử đã đi không trở lại, nhưng nỗi đau, vết thương nó để lại còn làm con người trăn trở và suy tư. Mạc Ngôn đã chứng tỏ được bản lĩnh của mình khi tìm được một cách tiếp cận phù hợp để nhìn nhận, suy tư về một vấn đề nhạy cảm của xã hội mà không bị rơi vào trạng thái cực đoan.

Hà Nội, tháng 4/2012

Nguyễn Thị Hà

[1], [2], [3] Nguyễn Thị Thại (dịch), Mạc Ngôn và những lời tự bạch, Nhà XB Văn Học, Hà Nội, 2004, tr.267, 275, 281.

[4], [5] PGS.TS Lê Nguyên Cẩn (chủ biên), Tác gia tác phẩm Văn học nước ngoài trong nhà trường Becton Brech, Nhà XB Đại Học Sư Phạm, Hà Nội, 2006, tr.27, 173.

[6], [7] Mạc Ngôn, Ếch, do Nguyên Trần (dịch), Nhà XB Văn Học, Hà Nội, 2009, tr.550, 469.

 

 

Tag